Mở đầu là tiết Nói và nghe tại lớp 9A12 do cô Lê Thị Dịu thực hiện “Thảo luận về một vấn đề đáng quan tâm trong đời sống phù hợp với lứa tuổi, được gợi ra từ tác phẩm văn học”. Trên nền một văn bản quen thuộc, cô giáo vận dụng kỹ thuật khăn trải bàn để học sinh xác định vấn đề, đối tượng, luận điểm – luận cứ; tiếp đó, nhóm học sinh chuẩn bị poster lập luận ngắn, phân vai người điều phối – người phản biện – người ghi biên bản, diễn tập một phiên thảo luận lớp học. Các tiêu chí nói – nghe (rõ luận điểm, dẫn chứng xác đáng, thái độ văn minh, biết lắng nghe – hồi đáp) được mã hóa bằng rubric đơn giản, giúp học sinh tự/đồng đánh giá sau mỗi lượt trao đổi.
(Tiết dạy của cô giáo Lê Thị Dịu tại lớp 9A12)
Ở khối 6, cô Hoàng Thị Thu Ảnh dạy tiết Thực hành tiếng Việt tại lớp 6A6 với ba nội dung: ẩn dụ, dấu câu và đại từ. Học sinh trước hết nhận biết ẩn dụ qua những ví dụ quen thuộc và nêu ngắn gọn tác dụng; sau đó chỉnh lại dấu câu (chấm, phẩy, chấm hỏi…) để câu rõ ràng, dễ hiểu hơn; cuối cùng lựa chọn đại từ phù hợp (em, bạn, cô, thầy…) để lời văn lịch sự, đúng ngôi. Ở phần luyện tập, mỗi nhóm nhận một đoạn văn ngắn có lỗi, cùng sửa trực tiếp, ghi lý do và đọc lại trước lớp; giáo viên dùng phiếu tiêu chí đơn giản để nhận xét nhanh, nhờ vậy các em nắm chắc cách làm và thấy tiếng Việt gần gũi, dễ thực hành.
(Tiết dạy của cô giáo Hoàng Thị Thu Ảnh tại lớp 6A6)
Tiết thứ ba do cô Phạm Thị Thu Phương dạy Thực hành tiếng Việt tại lớp 9A2 tập trung vào điệp thanh – điệp vần theo hướng củng cố lí thuyết phục vụ ôn thi vào 10. Học sinh được hệ thống nhanh khái niệm, dấu hiệu nhận biết, phân biệt điệp thanh với điệp vần, nêu tác dụng thường gặp trong đề thi, đồng thời chỉ ra lỗi hay mắc. Cách tổ chức các hoạt động giúp các em nhớ lí thuyết – làm trúng yêu cầu đề, gắn kiến thức tiếng Việt với kĩ năng làm bài thi vào lớp 10.
(Tiết dạy của cô giáo Phạm Thị Thu Phương tại lớp 9A2)
Kết thúc ba tiết hội giảng, Tổ Ngữ văn họp rút kinh nghiệm trên tinh thần chuyên nghiệp, thẳng thắn và xây dựng. Tổ thống nhất: tiếp tục thiết kế hoạt động dạy - học tăng cơ hội thực hành cho học sinh; chuẩn hóa rubric nói/nghe – đọc – viết theo mức độ Nhận biết/Thông hiểu/Vận dụng/Vận dụng cao; dùng học liệu số và sản phẩm thực tiễn (poster, pitch, nhật ký học tập) để đánh giá thường xuyên, kịp thời phản hồi; liên thông nội dung tiếng Việt – văn học – kỹ năng sống nhằm nuôi dưỡng năng lực ngôn ngữ, thẩm mỹ và phẩm chất công dân. Hội giảng khép lại với tín hiệu tích cực: học sinh chủ động, tự tin; giáo viên gắn kết lý thuyết với thực hành; tổ chuyên môn có lộ trình triển khai kiểm tra – đánh giá giữa kỳ rõ ràng, đồng bộ và hiệu quả.